Đăng: 01:00 01/11/2026 · Cập nhật: 15:00 01/11/2026
Có thể được. Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP (bản hợp nhất) xét việc có tên trên Giấy chứng nhận tại tỉnh, thành phố nơi có dự án, nên nhà ở tỉnh khác không tính vào phần này. Quý khách vẫn phải đạt điều kiện về đối tượng và thu nhập.
Luật xét điều kiện chưa có nhà như thế nào?
Xét theo nơi có dự án
Điều kiện nhà ở có hai trường hợp: chưa có nhà tại tỉnh, thành phố nơi có dự án, hoặc có nhà nhưng bình quân dưới 15 m² sàn/người. Với trường hợp thứ nhất, luật xét người đứng đơn và vợ hoặc chồng có tên trong Giấy chứng nhận về nhà ở hay không, giới hạn trong tỉnh, thành phố nơi có dự án. Dự án ở TP.HCM thì Quý khách xem mình có nhà tại TP.HCM hay không, không xét nhà ở quê.
Điều gì không được xét ở phần này
Phần “chưa có nhà” chỉ nhìn việc đứng tên Giấy chứng nhận. Nhà ở quê không làm Quý khách mất điều kiện này. Tuy vậy, hồ sơ vẫn phải có giấy xác nhận từ cơ quan có thẩm quyền, và Quý khách vẫn phải đạt điều kiện đối tượng cùng thu nhập. Bài ai được mua và điều kiện mua giải thích hai điều kiện đó.
Nhà ở quê có tính không, qua từng ví dụ?
Bảng đối chiếu
| Tình huống | Điều kiện nhà ở tại dự án TP.HCM |
|---|---|
| Quý khách có nhà ở Cà Mau, chưa có nhà tại TP.HCM | Có thể đạt |
| Vợ hoặc chồng đứng tên nhà tại TP.HCM | Chưa đạt, trừ khi bình quân dưới 15 m²/người |
| Có nhà ở Bình Dương cũ hoặc Bà Rịa - Vũng Tàu cũ | Cần kiểm tra kỹ, vì các địa bàn này nay thuộc TP.HCM |
Trường hợp cuối là điểm dễ bỏ sót sau sáp nhập: nhà Quý khách từng xem là “ở tỉnh khác” nay có thể nằm trong TP.HCM.
Ba ví dụ cụ thể
| Hoàn cảnh | Cách xét theo Điều 29 | Kết quả về nhà ở |
|---|---|---|
| Anh Bình đứng tên một nhà ở Cà Mau, thuê trọ tại TP.HCM, vợ chưa đứng tên nhà nào | Không có tên trên Giấy chứng nhận tại TP.HCM, cả anh và vợ | Có thể đạt |
| Chị Lan độc thân, có nhà 40 m² ở quê Nghệ An, thuê phòng tại TP.HCM | Nhà ở Nghệ An không nằm trong phạm vi tỉnh, thành phố có dự án | Có thể đạt |
| Vợ chồng anh Tùng, vợ đứng tên nhà 48 m² tại TP.HCM, đăng ký thường trú bốn người | Bình quân 48 chia 4, bằng 12 m²/người, thấp hơn 15 | Có thể đạt theo trường hợp thứ hai |
Trường hợp thứ ba cho thấy ngay cả khi có nhà tại TP.HCM, Quý khách vẫn có thể đạt nếu bình quân diện tích thấp hơn 15 m² sàn/người. Cách đếm người xem bài cách tính 15 m²/người. Nếu căn nhà đó là 60 m² và bốn người, bình quân đúng 15 m²/người thì chưa đạt, vì luật ghi “thấp hơn”.
THỨ TỰ XÉT NHÀ Ở QUÊ
- Xác định tỉnh, thành phố có dự án
- Xem tên trên Giấy chứng nhận tại nơi đó
- Nếu có tính bình quân dưới 15 m² sàn/người
- Xin giấy xác nhận trong 07 ngày
Sau sáp nhập cần xem kỹ điểm nào?
Địa bàn cũ nay thuộc TP.HCM
Sau sáp nhập, TP.HCM gồm cả các địa bàn Bình Dương cũ và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ. Quý khách từng có nhà ở một trong hai nơi này nên kiểm tra lại: nhà đó nay nằm trong TP.HCM, nên được xét là nhà tại nơi có dự án khi Quý khách đăng ký dự án ở TP.HCM. Chúng tôi chưa có danh sách phường, xã cụ thể nên Quý khách hỏi cơ quan cấp Giấy chứng nhận để biết chính xác địa chỉ của mình thuộc đơn vị nào hiện nay.
Dự án ở tỉnh khác
Nếu Quý khách đăng ký mua tại dự án ở một tỉnh khác ngoài TP.HCM, thì nhà ở quê (nếu cùng tỉnh đó) lại được xét. Nguyên tắc luôn là xét tỉnh, thành phố nơi có dự án, nên cùng một ngôi nhà có thể được tính ở dự án này nhưng không tính ở dự án kia.
Những tình huống hay gặp
Nhà ở quê đứng tên vợ hoặc chồng
Điều 29 xét cả hai vợ chồng, nhưng chỉ xét nhà tại tỉnh, thành phố có dự án. Nhà ở quê của vợ hoặc chồng, nếu không nằm ở TP.HCM, thì không làm mất điều kiện chưa có nhà tại TP.HCM.
Nhà ở quê đã bán hoặc đã tặng cho
Chúng tôi chưa có căn cứ để trả lời khi nhà đã chuyển nhượng, vì điều này liên quan đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận và xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Quý khách hỏi cơ quan cấp Giấy chứng nhận trước khi nộp.
Chưa rõ nhà thuộc địa bàn nào
Nếu Quý khách không chắc căn nhà ở Bình Dương cũ hay Bà Rịa - Vũng Tàu cũ nay thuộc đơn vị hành chính nào, hãy lấy giấy đề nghị xác nhận chưa có nhà. Cơ quan cấp Giấy chứng nhận sẽ cho biết kết quả theo dữ liệu của họ.
Nên hỏi gì khi đến cơ quan xác nhận
Quý khách nên hỏi ba điều. Thứ nhất, địa chỉ nhà của Quý khách nay thuộc tỉnh, thành phố nào theo đơn vị hành chính hiện hành. Thứ hai, giấy xác nhận chưa có nhà do cơ quan nào cấp và cần những giấy tờ gì kèm theo. Thứ ba, nếu vợ hoặc chồng có nhà ở nơi khác thì cơ quan xác nhận xét cả hai người ra sao. Việc hỏi trước giúp Quý khách đi một lần đủ giấy.
Ví dụ tính thời gian xin giấy
Giả sử Quý khách nộp đề nghị xác nhận vào ngày 05 của tháng. Thời hạn 07 ngày là thời gian tối đa cơ quan có để xác nhận kể từ khi nhận giấy đề nghị. Quý khách nên nộp sớm, vì còn các giấy xác nhận về thu nhập (cũng có thể mất 07 ngày nếu không có hợp đồng lao động) và ngày dự án chốt nhận hồ sơ. Hai giấy có thể xin cùng lúc ở hai nơi khác nhau, nên tổng thời gian có thể chỉ khoảng 07 ngày thay vì cộng dồn 14 ngày.
Các bước khi Quý khách còn nhà ở quê
| Bước | Việc cần làm | Mốc hoặc căn cứ |
|---|---|---|
| 1 | Xác định dự án định đăng ký thuộc tỉnh, thành phố nào | Điều 29 xét theo nơi có dự án |
| 2 | Xem người đứng đơn và vợ hoặc chồng có tên trên Giấy chứng nhận tại nơi đó không | Điều 29 Nghị định 100/2024 |
| 3 | Nếu có nhà tại nơi có dự án, tính bình quân diện tích sàn | Dưới 15 m² sàn/người |
| 4 | Đề nghị cơ quan cấp Giấy chứng nhận xác nhận | 07 ngày, Nghị định 54/2026 |
So hai dự án ở hai nơi
Giả sử anh Hải có nhà 100 m² ở một tỉnh khác, đăng ký thường trú ở đó 3 người. Anh định đăng ký dự án tại TP.HCM và không đứng tên nhà nào tại TP.HCM. Nhà ở tỉnh khác không nằm trong phạm vi xét, nên anh có thể đạt cửa nhà ở theo trường hợp thứ nhất. Nếu cùng căn nhà đó nằm ở đúng tỉnh có dự án mà anh đăng ký, thì bình quân là 100 chia 3, khoảng 33,3 m²/người, chưa đạt trường hợp thứ hai. Cùng một căn nhà cho hai kết quả vì nơi có dự án khác nhau.
Chuẩn bị trước khi làm
Cơ quan cấp Giấy chứng nhận tại tỉnh, thành có dự án xác nhận trong 07 ngày kể từ khi nhận giấy đề nghị (Nghị định 54/2026). Quý khách chuẩn bị giấy tờ tùy thân của người đứng đơn và vợ hoặc chồng, giấy đề nghị xác nhận chưa có nhà theo mẫu, và hồ sơ chứng minh thu nhập, đối tượng. Quý khách vẫn phải đạt điều kiện về đối tượng và thu nhập, nên có thể đối chiếu bằng công cụ kiểm tra điều kiện.
Sau đó Quý khách xem các bước đăng ký, hồ sơ mua, danh sách dự án và để lại thông tin tại đăng ký trực tuyến nếu cần được hướng dẫn thêm.
Chúng tôi hỗ trợ gì
Chúng tôi giúp Quý khách đối chiếu địa chỉ nhà với đơn vị hành chính hiện hành, xác định nhà đó có nằm trong tỉnh, thành phố có dự án hay không, và chọn đúng loại giấy xác nhận cần xin. Chúng tôi không cam kết suất mua và không nhận tiền giữ suất. Quý khách có thể để lại thông tin tại trang liên hệ để được hướng dẫn bước tiếp theo.
Căn cứ pháp lý
Ngày kiểm: 02/11/2026. Các văn bản dưới đây được đối chiếu với bản hợp nhất và nguồn đã nêu tại ngày này.
- Nghị định 100/2024/NĐ-CP, bản hợp nhất 24/VBHN-BXD, Điều 29 (điều kiện về nhà ở). Bản gốc: datafiles.chinhphu.vn. Xem trang Văn bản.
- Nghị định 54/2026/NĐ-CP (09/02/2026), sửa Điều 29, nêu thẩm quyền xác nhận chưa có nhà trong 07 ngày, xem trang Văn bản.
- Luật Nhà ở 2023 (27/2023/QH15), xem trang Văn bản.
Hỏi đáp
Có nhà ở quê, chưa có nhà ở TP.HCM thì có mua được nhà ở xã hội tại TP.HCM không?
Có thể được. Điều 29 Nghị định 100/2024 xét việc có tên trên Giấy chứng nhận tại tỉnh, thành phố nơi có dự án, nên nhà ở tỉnh khác không tính vào phần này. Quý khách vẫn phải đạt điều kiện về đối tượng và thu nhập.
Vợ hoặc chồng có nhà ở TP.HCM thì sao?
Điều 29 xét cả người đứng đơn và vợ hoặc chồng. Nếu một người đứng tên nhà tại TP.HCM thì chưa đạt điều kiện chưa có nhà, trừ khi bình quân diện tích dưới 15 m² sàn/người.
Nhà ở Bình Dương cũ hoặc Bà Rịa - Vũng Tàu cũ có tính là nhà ở TP.HCM không?
Các địa bàn này nay thuộc TP.HCM, nên Quý khách cần kiểm tra kỹ. Nhà từng xem là ở tỉnh khác có thể nay nằm trong TP.HCM.
Ai xác nhận Quý khách chưa có nhà?
Cơ quan cấp Giấy chứng nhận tại tỉnh, thành phố có dự án xác nhận trong 07 ngày kể từ khi nhận giấy đề nghị.
Nhà ở quê đã có thì còn phải đạt điều kiện nào nữa?
Quý khách vẫn phải thuộc một nhóm đối tượng của Điều 76 Luật Nhà ở và có thu nhập không vượt trần: 25 triệu đồng (độc thân), 35 triệu đồng (độc thân nuôi con), 50 triệu đồng (tổng hai vợ chồng) mỗi tháng.









